Tình cảnh lẻ loi của ngời chinh phụ (Trích Chinh phụ ngâm - Đặng Trần Côn)
Tình cảnh lẻ loi của ngời chinh phụ (Trích Chinh phụ ngâm - Đặng Trần Côn) bao gồm tóm tắt nội dung chính, lập dàn ý phân tích, bố cục, giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật cùng hoàn cảnh sáng tác, ra đời của tác phẩm và tiểu sử, quan điểm cùng sự nghiệp sáng tác phong cách nghệ thuật giúp các em học tốt môn văn 9
Tác giả
1. Tiểu sử
- Đặng Trần Côn (chưa rõ năm sinh, năm mất), sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII, quê ở làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì, Hà Nội (nay là quận Thanh Xuân – Hà Nội)
- Là người thông minh, học giỏi
2. Sự nghiệp
- Đầu thời Cảnh Hưng (1740 – 1786), ông được làm Huấn đạo một huyện, sau được đặt tên là Tri huyện Tri huyện Thanh Oai, thành phố Sơn Tây.
- Cho đến cuối đời ông chỉ làm đến chức Ngự sử đài Chiếu khám sau đó nghỉ hưu và dạy học tại nhà ông Nguyễn Đình Kỷ ở làng Hạ Đình.
- Tác phẩm tiêu biểu: Chinh phụ ngâm và các bài thơ, phú chữ Hán tả cảnh thiên nhiên…
Sơ đồ tư duy về tác giả Đặng Trần Côn:
Đặng Trần Côn (không rõ năm sinh, năm mất) là người sống vào khoảng nửa đầu thế kỷ XVIII.
Ông quê ở làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì, Hà Nội (nay thuộc quận Thanh Xuân, Hà Nội).
Đặng Trần Côn là người thông minh, học giỏi, từng làm Huấn đạo một huyện vào đầu thời Cảnh Hưng (1740 - 1786).
Sau đó, ông được bổ nhiệm làm Tri huyện Thanh Oai, rồi thành phố Sơn Tây.
Về sau, ông làm Ngự sử đài Chiều khám cho đến khi nghỉ hưu và mở lớp dạy học tại nhà ông Nguyễn Đình Kỷ ở làng Hạ Đình.
Ông có tác phẩm tiêu biểu là Chinh phụ ngâm, cùng với các bài thơ, phú chữ Hán tả cảnh thiên nhiên.
Tác phẩm
1. Tìm hiểu chung
a. Xuất xứ
Đầu đời Lê Hiển Tông có nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra quanh kinh thành Thăng Long. Triều đình phải cất quân đánh giặc. Trai tráng phải đi ra trận. Cảm động trước nỗi khổ đau mất mát của con người, nhất là với người vợ lính, Đặng Trần Côn đã viết “Chinh phụ ngâm”.
b. Bố cục
- Phần 1: 8 câu đầu
- Phần 2: 8 câu tiếp theo
- Phần 3: 8 câu cuối
c. Thể loại
- Nguyên tác chữ Hán, là thể ngâm khúc; thể thơ trường đoản cú (câu dài ngắn khác nhau), gồm 467 câu thơ
- Bản diễn Nôm theo thể ngâm khúc; thể thơ song thất lục bát.
d. Phương thức biểu đạt: biểu cảm
2. Giá trị nội dung, nghệ thuật
a. Giá trị nội dung
- Bằng sự đồng cảm và chia sẻ nỗi niềm khát khao hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ, tác giả khẳng định được giá trị nhân văn, nhân đạo sâu sắc của khúc ngâm.
- Đồng thời gián tiếp phê phán chiến tranh phong kiến chia rẽ tình cảm gia đình, gây nên bao tấn bi kịch tinh thần cho con người.
b. Giá trị nghệ thuật
- Miêu tả diễn biến tâm trạng đặc sắc.
- Tiếng nói độc thoại hấp dẫn lòng người vì giá trị nhân văn cao cả.
- Xây dựng hình tượng nhân vật, cử chỉ hành động, qua các điệp ngữ, điệp từ, ẩn dụ tượng trưng và câu hỏi tu từ…
Sơ đồ tư duy về đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ:
Đầu thời Lê Hiển Tông, xung quanh kinh thành Thăng Long nổ ra nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân. Triều đình phải điều quân đi đánh dẹp, khiến trai tráng phải ra trận.
Chứng kiến nỗi khổ đau của người dân, đặc biệt là những người vợ lính, Đặng Trần Côn đã sáng tác bài "Chinh phụ ngâm".
Bài thơ chia làm 3 phần:
Phần 1: 8 câu đầu
Phần 2: 8 câu tiếp theo
Phần 3: 8 câu cuối
Nguyên tác được viết bằng chữ Hán, thể ngâm khúc, là thể thơ dài.
Bài thơ có 467 câu, được dịch ra Nôm theo thể ngâm khúc, sử dụng thể thơ song thất lục bát.
Phương thức biểu đạt của tác phẩm là biểu cảm, thể hiện sự đồng cảm và chia sẻ nỗi lòng của người phụ nữ mong ngóng hạnh phúc lứa đôi.
Qua đó, tác giả khẳng định giá trị nhân văn, nhân đạo sâu sắc và đồng thời phê phán chiến tranh phong kiến gây chia rẽ tình cảm gia đình, gây ra những đau khổ về tinh thần.
Bài thơ miêu tả diễn biến tâm trạng nhân vật một cách đặc sắc.
Tiếng nói độc thoại trong bài thơ hấp dẫn người đọc bởi giá trị nhân văn cao cả.
Về mặt nghệ thuật, bài thơ xây dựng hình tượng nhân vật sinh động qua cử chỉ, hành động, sử dụng các biện pháp tu từ như điệp ngữ, điệp từ, ấn dụ, tượng trưng và câu hỏi tu từ.