Làng (Kim Lân) 9

Làng (Kim Lân) bao gồm tóm tắt nội dung chính, lập dàn ý phân tích, bố cục, giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật cùng hoàn cảnh sáng tác, ra đời của tác phẩm và tiểu sử, quan điểm cùng sự nghiệp sáng tác phong cách nghệ thuật giúp các em học tốt môn văn 9

Tác giả

1. Tiểu sử

- Kim Lân (1920 – 2007) tên khai sinh Nguyễn Văn Tài

- Quê quán: Tân Hồng, Từ Sơn, Bắc Ninh

- Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông chỉ học hết tiểu học, rồi vừa làm thơ sơn guốc, khắc tranh bình phong, vừa viết văn.

- Năm 1944, Kim Lân tham gia Hội văn hóa cứu quốc

- Sau đó liên tục hoạt động văn nghệ phục vụ kháng chiến và cách mạng (viết văn, làm báo, diễn kịch, đóng phim)

2. Sự nghiệp

a. Tác phẩm chính

Một số tác phẩm tiêu biểu: Nên vợ nên chồng (tập truyện ngắn, 1955), Con chó xấu xí (tập truyện ngắn, 1962)…

b. Phong cách sáng tác

- Là cây bút chuyên viết truyện ngắn có sở trường viết về nông thôn và người nông dân

- Có biệt tài miêu tả tâm lý nhân vật; văn phong giản dị nhưng gợi cảm, hấp dẫn; ngôn ngữ sống động, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày và mang đậm màu sắc nông thôn; am hiểu và gắn bó sâu sắc về phong tục và đời sống làng quê Bắc Bộ.

Sơ đồ tư duy về tác giả Kim Lân:

Kim Lân (1920 - 2007) là nhà văn với tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, quê ở Tân Hồng, Từ Sơn, Bắc Ninh.

Do gia đình khó khăn, ông chỉ học đến tiểu học rồi làm nhiều nghề như làm thơ, khắc tranh, và viết văn.

Năm 1944, Kim Lân tham gia Hội Văn hóa Cứu quốc và tích cực hoạt động văn nghệ phục vụ kháng chiến, cách mạng.

Ông là tác giả của nhiều tác phẩm nổi tiếng như "Nên vợ nên chồng" (1955) và "Con chó xấu xí" (1942).

Kim Lân chuyên viết truyện ngắn về nông thôn và người nông dân, với biệt tài miêu tả tâm lý nhân vật.

Văn phong của ông giản dị, gợi cảm, hấp dẫn, sử dụng ngôn ngữ đời thường, đậm chất nông thôn và am hiểu sâu sắc về phong tục, đời sống làng quê Bắc Bộ.

Tác phẩm

1. Tìm hiểu chung

a. Xuất xứ

Truyện ngắn Làng được viết trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp và đăng lần dầu trên tạp chí Văn nghệ năm 1948

b. Ý nghĩa nhan đề

Nhan đề của truyện là “Làng” không phải là “Làng Dầu” vì nếu là “Làng Dầu” thì vấn đề mà tác giả đề cập tới chỉ nằm trong phạm vi nhỏ hẹp, cụ thể ở một làng tên là Chợ Dầu. Dụng ý của tác giả muốn nói tới một vấn đề mang tính phổ biến ở khắp các làng quê, có trong mọi người nông dân của mọi miền Tổ quốc.

c. Tóm tắt

Ông Hai là người nông dân yêu và tự hào về làng chợ Dầu của mình nhưng vì chiến tranh và hoàn cảnh gia đình nên ông phải đi tản cư. Một hôm nghe ngóng được tin làng Dầu theo Tây. Tín dữ bất ngờ khiến ông không thể tin nổi rồi chỉ biết cúi gằm mặt xuống mà đi về. Về nhà, ông nằm vật ra, ai nói gì cũng tưởng họ bàn tán về làng mình. Khi cùng đường, ông chớm có ý định quay về làng nhưng rồi ông lại xác định “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”. Khi chủ tịch xã lên cải chính làng Dầu không theo Tây, ông sung sướng đi khoe với tất cả mọi người.

d. Bố cục

- Phần 1 (từ đầu ...vui quá!): Ông Hai trước khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc.

- Phần 2 (tiếp ... đi đôi phần): Tâm trạng ông Hai khi nghe tin làng theo giặc.

- Phần 3 (còn lại): Tâm trạng của ông Hai khi tin làng theo giặc được cải chính.

e. Thể loại: truyện ngắn

g. Phương thức biểu đạt: tự sự kết hợp miêu tả, biểu cảm

2. Giá trị nội dung, nghệ thuật

a. Giá trị nội dung

Tình yêu làng quê và lòng yêu nước, tinh thần kháng chiến của người nông dân phải rời làng đi tản cư đã được thể hiện chân thực, sâu sắc và cảm động ở nhân vật ông Hai trong truyện Làng.

b. Giá trị nghệ thuật

Tác giả đã thành công trong việc xây dựng tình huống truyện, trong nghệ thuật miêu tả tâm lí và ngôn ngữ nhân vật

Sơ đồ tư duy về văn bản Làng:

Truyện ngắn "Làng" được viết trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp và lần đầu đăng trên tạp chí Văn nghệ năm 1948.

Tên truyện là "Làng" chứ không phải "Làng Dầu" vì vấn đề tác giả muốn đề cập không chỉ giới hạn ở một làng cụ thể là Chợ Dầu, mà là một vấn đề phổ biến, có ở khắp các làng quê và trong tâm trí mọi người nông dân trên cả nước.

Ông Hai là một người nông dân yêu và tự hào về làng Chợ Dầu, nhưng vì chiến tranh và hoàn cảnh gia đình, ông phải đi tản cư. Khi nghe tin làng Dầu theo giặc, ông Hai vô cùng đau đớn và không thể tin được, chỉ biết cúi gằm mặt về nhà. Ông luôn lo lắng người khác bàn tán về làng mình.

Ban đầu, ông Hai định quay về làng nhưng rồi nhận ra "Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thôi". Sau đó, khi Chủ tịch xã lên cải chính rằng làng Dầu không theo giặc, ông Hai sung sướng đi khoe với mọi người.

Phần 1: Ông Hai trước khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc.

Phần 2: Tâm trạng ông Hai khi nghe tin làng theo giặc.

Phần 3: Tâm trạng của ông Hai khi tin làng theo giặc được cải chính.

Truyện ngắn thuộc thể loại tự sự, kết hợp miêu tả và biểu cảm.

Truyện thể hiện tình yêu làng quê và lòng yêu nước, tinh thần kháng chiến của người nông dân phải rời làng đi tản cư một cách chân thực, sâu sắc và cảm động qua nhân vật ông Hai.

Tác giả đã thành công trong việc xây dựng tình huống truyện, miêu tả tâm lý nhân vật và sử dụng ngôn ngữ một cách hiệu quả.